Nguyễn Đình Chiểu
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Một nhà thơ, nhà văn hóa, nhà giáo, thầy thuốc yêu nước lớn của Việt Nam thế kỷ 19: Nguyễn Đình Chiểu là một danh nhân văn hóa, tác giả của những tác phẩm văn chương mang hơi thở thời đại và tinh thần chống ngoại xâm.
- Biểu tượng của ý chí và nghị lực: Cuộc đời ông là tấm gương sáng về nghị lực vượt lên số phận nghiệt ngã (bị mù lòa) để cống hiến cho dân, cho nước bằng ngòi bút và tấm lòng.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của truyện thơ "Lục Vân Tiên" nổi tiếng.
- Tinh thần yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được thể hiện rõ trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc".
- Nhân dân Nam Bộ vô cùng kính trọng và mến mộ cụ Đồ Chiểu.
Các cách sử dụng nâng cao
- "Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu": Chỉ toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn chương của ông, mang đậm tính chiến đấu, ngợi ca chính nghĩa và lên án bất công.
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là vũ khí sắc bén chống lại quân xâm lược.
- "Tấm gương Nguyễn Đình Chiểu": Cụm từ dùng để chỉ bài học về nghị lực sống và lòng yêu nước từ cuộc đời ông.
- Câu chuyện về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng cho các thế hệ sau.
Biến thể và từ gần giống
- Cụ Đồ Chiểu: Cách gọi thân thương, kính trọng của nhân dân dành cho Nguyễn Đình Chiểu (Ông đồ họ Nguyễn, bị mù).
- Tú Chiểu: Cách gọi dựa trên học vị Tú tài của ông.
Từ đồng nghĩa
- Nhà nho yêu nước: Chỉ những trí thức Nho học có tinh thần yêu nước, canh cánh việc nước (cụm từ mô tả đúng phẩm chất của ông).
- Nhà văn hóa kiệt xuất: Chỉ những người có đóng góp to lớn vào đời sống văn hóa dân tộc.
Thành ngữ, tục ngữ liên quan
(Không có thành ngữ, tục ngữ phổ biến nào trực tiếp chứa tên riêng "Nguyễn Đình Chiểu". Tuy nhiên, tinh thần và tác phẩm của ông thường được nhắc đến trong các câu nói mang tính giáo dục.) - "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà": Là hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, thường được trích dẫn để nói về sứ mệnh cao cả của văn chương và đạo đức của người cầm bút chân chính.
- Là một nhà nho yêu nước, sinh ngày 01 - 07 - 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, mất tại Ba Tri (Bến Tre) năm 1888 (24 - 5 năm Mậu Tý). Cha là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên, làm thư lại trong dinh Lê Văn Duyệt ở thành Gia Định. Năm 1833, Nguyễn Đình Huy đưa con về gởi một người bạn ở Huế để ăn học. Khoảng năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về quê và sau đó thi đỗ tú tài (1843) ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Năm 1846, ông ra Huế chờ khoa thi Hội, nhưng sắp đến kỳ thi thì hay tin mẹ mất, ông về chịu tang. Dọc đường, phần vì mệt nhọc, phần vì thương mẹ, ông bị ốm nặng và mù cả hai mắt. Đến quê nhà, ông lại bị vợ chưa cưới bội ước nhưng không nản lòng, ông ở lại Gia Định mở trường , học trò theo học rất đông, nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu, Tú Chiểu
- Pháp chiếm Gia Định, ông lui về Ba Tri ( Bến Tre) dạy học và làm thuốc. Ông liên hệ mật thiết với các nhóm nghĩa binh chống Pháp. Không thể trực tiếp cầm gươm giết giặc, ông giúp ý kiến cho các lãnh tụ nghĩa quân, dùng ngòi bút của mình ca ngợi những chiến sĩ đã hy sinh cho đất nước, vạch trần tội ác của bọn bán nước và cướp nước , kêu gọi nhân dân không hợp tác với giặc. Thơ văn ông là thơ văn chiến đấu. Năm 1888 ông mất. Nhân dân vô cùng tiếc thương, nhiều người đã để tang ông
- Các tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều vấn đáp y thuật .... Và một số bài văn tế nổi tiếng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục Tỉnh .